Người chết quá lâu (từ 50 năm đến 60 năm) mà người thân không có đăng ký khai tử, không có giấy, tài liệu chứng minh liên quan đến người chết và không còn bia, mộ hoặc người làm chứng nên không đăng ký được khai tử.

Đối với trường hợp người chết đã lâu, không có Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay thế Giấy báo tử do cơ quan có thẩm quyền cấp theo khoản 2 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Điều 13 Thông tư số 04/2020/TT-BTP đã quy định người yêu cầu đăng ký khai tử có thể cung cấp các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc xác nhận hợp lệ. Trên cơ sở đó, cơ quan đăng ký hộ tịch phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, xác minh chặt chẽ, bảo đảm thông tin đúng sự thật thì thực hiện việc đăng ký khai tử.Trường hợp người yêu cầu đăng ký khai tử chỉ cung cấp các giấy tờ chưa được cấp hoặc xác nhận hợp lệ bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (như: gia phả dòng họ, ảnh bia, mộ người chết; văn bản xác nhận của người làm chứng về các thông tin liên quan đến người chết, sự kiện chết), nếu cơ quan đăng ký hộ tịch kiểm tra, xác minh, khẳng định các thông tin này có tính xác thực, được lập Biên bản xác minh thì có thể vận dụng coi là căn cứ để thực hiện việc đăng ký khai tử. Nếu người yêu cầu đăng ký khai tử không cung cấp được giấy tờ, tài liệu, chứng cứ chứng minh hoặc giấy tờ, tài liệu, chứng cứ không hợp lệ, không có cơ sở để cơ quan đăng ký hộ tịch xác định được thông tin, nơi cư trú cuối cùng của người chết và sự kiện chết là thật thì không thể đăng ký khai tử. Để chấm dứt quyền của cá nhân, những người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.